Cuối thời phong kiến

Dùng dây thắt lưng thắt ngang eo, vừa giữ cho vạt áo không trễ xuống, vừa để trang điểm, tạo nét duyên dáng cho người thôn nữ “thắt đáy lưng ong”. Vẻ đẹp của kiểu trang phục này đã đi vào thơ Nguyễn Bính một cách thật nên thơ:
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?…
Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lưng xanh…
Áo tứ thân đã trở thành trang phục điển hình của phụ nữ Việt Nam thời phong kiến: ngoài cùng là chiếc áo màu nâu đỏ (còn gọi là màu gụ), bên trong là áo màu mỡ gà, trong cùng là áo màu vàng canh. Ba lớp áo ba màu (còn gọi là áo “mớ ba”) kết hợp với màu xanh của chiếc thắt lưng và màu đỏ hoa hiên của yếm trên ngực thành một hòa sắc rất ưa nhìn, vừa rực rỡ màu sắc lai vưa khiêm nhường đoan trang.
Đến cuối thời phong kiến, hầu hết các bà, các chị đã tháy thế chiéc váy quây bằng chiếc quần đen rộng. So với váy, quần thuận tiện hơn cho các bà, các chị trong lao động và trong sinh hoạt. Áo tứ thân cũng được cải biên thành chiếc áo dài, nhưng vẫn giữ nguyên đường xẻ tà, tay may liền như áo cánh, cổ vẫn cài cúc bấm nhưng giờ đầy cài lệch sang bên nách và thay cho hai tà áo trước nay chỉ còn một tà áo rộng như áo dài nam giới thời bấy giờ.
Thời Pháp thuộc, ở thành thị đàn ông mặc áo sơ mi và quần ấu, đàn bà mặc quần đen, áo dài hoặc áo sơ mi. Ở nông thôn cả đàn ông và đàn bà đều mặc quần đen hoặc nâu và áo cánh.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám, một cuộc sống mới vô cùng phong phú đòi hỏi trang phục phải thay đổi, thích nghi với điều kiện xây dựng đát nước công nghiệp hoá.
Ở nông thôn, đàn ông, đàn bà đều mặc quần may theo kiểu bà ba (người miền Bắc và miền Trung thường mặc màu nâu, người miền Nam thường dùng màu đen). Đàn ông cắt tóc ngắn. Đàn bà cặp tóc hoặc búi tóc.
Ở thành thị, các bà, các chị mặc quần lụa đen hoặc phíp đen. Áo sơ mi nữ thường may kiểu Hồng Công (thẳng, không eo, cổ hai ve). Tóc để dài cặp lại hoặc tết lại thành bím là kiểu chải tóc phổ biến lúc bầy giờ. Nam giới thường mặc quần ấu và áo sơ mi, trang trọng hơn có thể khoác áo “đại cán” (kiểu áo khoác ngoài), may bằng vải ka ki bốn túi).
Đến những năm 60 đã không còn ranh giới giữa trang phục nông thôn và trang phục thành thị.