Trang phục thời phong kiến

Hình mặt trời tượng trưng cho quyền lực cao nhất, chi phối toàn bộ cuộc sống con người, và hình con rồng thể hiện quan niệm của người Việt cổ về nguồn gốc của mình là con lạc cháu hồng.
Thời phong kiến
Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn… trang phục Việt Nam đã nhiều lần thay đổi, nhưng đều có nét chung là thể hiện sự phân chia giai cấp rõ rệt.
Quần áo của vua quan khác quần áo của thứ dân. Vua mặc “long cổn” (áo thêu rồng uốn khúc) hoặc “hoàng bào” (áo màu vàng), thắt đai lưng to bản, đàu đội mũ “miệu”, chân đi “hia” (loại giày vải, mũi cong, cổ cao).
Các quan trong triều trang phục tương tự như vua nhưng khác màu (nhất là không được mặc màu vàng), hoa văn chủ yếu là hình sóng nước (rất ít được dùng hoa văn hình con rồng).
Cung tần mỹ nữ mặc xiêm y màu sắc rực rỡ, hoa văn trang trí cầu kỳ (chủ yếu là các hoa văn hình hoa sen, hoa cúc, dương sỉ, chim phượng…)
Dưới thời phong kiến nông nghiệp phát triển. Nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải hình thành và càng về sau càng phát triển hơn. Người dân Việt thời đó đã dệt được các loại vải gai, the, lanh, lụa, gấm vóc và một số vải mang đặc tính địa phương như “nái”, “sồi”, “đoạn”, “lĩnh”, “sa”,… Tuy nhiên, do điều kiện sinh hoạt, đời sống còn thấp kém, người dân xưa thường dùng các màu đen, vàng đất, nâu sồng…
Người lao động trang phục giản đơn. Đàn ông búi tóc, cởi trần (tục xăm mình trên thân mình khá phổ biến thể hiện sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên), mặc quần rộng bằng vải thô. Vào dịp lễ hội, đàn ông khoác áo dài, đầu đội khăn xếp, tay cầm ô đen.
Đàn bà vấn khăn, nửa người trên che yếm. Yếm là một miếng vải vuông đặt chéo trên ngực người mặc, ở góc trên khoét hình tròn làm cổ, hai góc cạnh sườn được buộc ra sau lưng. Nhờ có chiếc yếm che kín cả ngực, bụng và một phần lưng nên khi ở nhà các cô, các chị có thể không mặc áo ngoài, tay để trần. Nửa người dưới che bằng chiếc váy rộng, dài đến ngang ống chân. Khi lao động, họ buộc túm gấu váy lên cạp váy (thắt lưng) thành chiếc váy ngắn. Khi ra đường các bà, các chị mặc thêm áo cánh ngắn, cổ tròn, tà mở (đa số không cài cúc trên ngực) để lộ yếm màu trắng, màu vàng hoặc màu hoa hiên. Vào dịp lễ hội các bà, các chị mặc ngoài cùng chiếc áo tứ thân: loại áo dài, hai thân trước dài bằng nhau, may từ 4 mảnh, thường không cài cúc buộc hai vạt với nhau hoặc buông thông.